Tài liệu này tổng hợp các nguyên tắc cốt lõi của việc phân bổ vốn: quyết định tỷ trọng giữa tài sản rủi ro (cổ phiếu) và tài sản phi rủi ro (tín phiếu kho bạc).
Quyết định này là sự đánh đổi giữa rủi ro và lợi nhuận, chịu ảnh hưởng bởi: (1) Mức độ hấp dẫn của danh mục rủi ro, được định lượng bằng Tỷ lệ Sharpe, và (2) Thái độ của nhà đầu tư, được mô hình hóa qua mức độ e ngại rủi ro (A).
Công cụ chính là hàm dụng ích, gán một điểm số "phúc lợi" cho danh mục:
Đường Phân bổ Vốn (CAL) là biểu đồ thể hiện các kết hợp rủi ro-lợi nhuận khả thi, với độ dốc chính là Tỷ lệ Sharpe. Việc phân bổ tối ưu vào tài sản rủi ro (y*) được xác định bằng công thức:
Một ứng dụng thực tế quan trọng là chiến lược thụ động (nắm giữ chỉ số thị trường), tạo ra Đường Thị trường Vốn (CML). Dữ liệu lịch sử cho thấy mức độ e ngại rủi ro (A) trung bình của nhà đầu tư nằm trong khoảng 2.0 đến 4.0.
Việc xây dựng danh mục đầu tư bao gồm hai nhiệm vụ chính:
Trọng tâm của phân tích này là nhiệm vụ đầu tiên.
Hầu hết các nhà đầu tư đều e ngại rủi ro (risk averse). Họ chỉ xem xét các triển vọng đầu cơ có phần bù rủi ro dương.
Để định lượng sự đánh đổi, chúng ta gán một điểm số dụng ích (U) cho danh mục:
Đây là mức lãi suất phi rủi ro cần có để mang lại cùng một điểm dụng ích (U) như danh mục rủi ro. Một danh mục chỉ đáng giá nếu lãi suất tương đương chắc chắn của nó > lãi suất phi rủi ro.
Là một đường cong nối tất cả các tổ hợp lợi nhuận-rủi ro mang lại cùng một mức dụng ích. Nhà đầu tư e ngại rủi ro hơn sẽ có đường bàng quan dốc hơn (đòi hỏi nhiều lợi nhuận hơn để chấp nhận thêm rủi ro).
Khi kết hợp một danh mục rủi ro (P) với một tài sản phi rủi ro (F), chúng ta tạo ra một tập hợp các cơ hội đầu tư.
Đầu tư một tỷ trọng y vào danh mục rủi ro P và (1-y) vào tài sản phi rủi ro F.
Là một đường thẳng biểu diễn tất cả các kết hợp rủi ro-lợi nhuận khả thi. Độ dốc của CAL được gọi là Tỷ lệ Sharpe (phần thưởng trên biến động).
Tỷ lệ Sharpe đo lường phần lợi nhuận tăng thêm trên mỗi đơn vị rủi ro tăng thêm. Một CAL dốc hơn (Tỷ lệ Sharpe cao hơn) luôn tốt hơn.
Trong thực tế, lãi suất vay (rfB) cao hơn lãi suất cho vay (rf). Điều này tạo ra một "điểm gãy" (kink) trên CAL tại điểm P, làm cho phần đường thẳng dành cho việc vay nợ (y > 1) có độ dốc thấp hơn.
Nhà đầu tư phải chọn một danh mục tối ưu trên CAL, phụ thuộc vào mức độ e ngại rủi ro (A) của cá nhân.
Để tối đa hóa hàm dụng ích, nhà đầu tư chọn tỷ trọng y* tối ưu trong tài sản rủi ro:
Tỷ trọng tối ưu (y*) là:
Danh mục đầu tư tối ưu được tìm thấy tại điểm mà đường bàng quan cao nhất có thể của nhà đầu tư tiếp xúc với Đường Phân bổ Vốn (CAL).
Một chiến lược thụ động tránh việc phân tích chứng khoán, thay vào đó bao gồm việc đầu tư vào hai danh mục thụ động: (1) Một tài sản phi rủi ro và (2) Một quỹ cổ phiếu mô phỏng chỉ số thị trường rộng (ví dụ: S&P 500).
Khi danh mục rủi ro trong chiến lược thụ động là một chỉ số thị trường rộng, CAL tương ứng được gọi là Đường Thị trường Vốn (CML).
Bảng: Lợi nhuận hàng năm trung bình và Tỷ lệ Sharpe của cổ phiếu Mỹ
| Giai đoạn | Lợi nhuận Vượt trội (TB) | Độ lệch chuẩn | Tỷ lệ Sharpe |
|---|---|---|---|
| 1926–2015 | 8.3% | 20.59% | 0.40 |
| 1926–1949 | 10.1% | 27.69% | 0.36 |
| 1950–1969 | 11.2% | 17.20% | 0.65 |
| 1970–1991 | 5.8% | 19.98% | 0.29 |
| 1992–2015 | 8.8% | 17.50% | 0.50 |
Dữ liệu lịch sử cho thấy Tỷ lệ Sharpe của thị trường là 0.40. Dựa trên dữ liệu tài sản của hộ gia đình và hiệu suất thị trường lịch sử, giá trị ước tính của A cho nhà đầu tư trung bình là 2.85, phù hợp với các nghiên cứu khác (ước tính A từ 2.0 đến 4.0).